




TAM VÔ LẬU HỌC
1. Giới.
2. Định.
3. Huệ.
TAM TUỆ HỌC
1. Văn.
2. Tư.
3. Tu.
TAM QUY Y
1. Phật.
2. Pháp.
3. Tăng.
(1.Giác. 2.Chánh. 3.Tịnh)
THẬP ĐẠI NGUYỆN PHỔ HIỀN BỒ TÁT
1. Lễ kính chư Phật.
2. Xưng tán Như Lai.
3. Quảng tu cúng dường.
4. Sám hối nghiệp chướng.
5. Tuỳ hỷ công đức.
6. Thỉnh chuyển pháp luân.
7. Thỉnh Phật trụ thế.
8. Thường tùy Phật học.
9. Hằng thuận chúng sanh.
10. Phổ giai hồi hướng.
LỤC ĐỘ
1. Bố thí.
2. Trì giới.
3. Nhẫn nhục.
4. Tinh tấn.
5. Thiền định.
6. Trí tuệ.
LỤC HÒA
1. Kiến hòa đồng giải.
2. Thân hòa đồng trụ.
3. Giới hòa đồng tu.
4. Khẩu hòa vô tranh.
5. Ý hòa đồng duyệt.
6. Lợi hòa đồng quân.
THẬP THIỆN
1. Không sát sanh.
2. Không trộm cắp.
3. Không tà dâm.
4. Không nói dối.
5. Không nói thiêu dệt.
6. Không nói lưỡi hai chiều.
7. Không nói lời hung ác.
8. Không tham lam.
9. Không sân hận.
10. Không si mê.
NGŨ GIỚI
1. Không sát sanh.
2. Không trộm cắp.
3. Không tà dâm.
4. Không nói dối.
5. Không uống rượu.
NGŨ THƯỜNG
1. Nhân: không sát sanh.
2. Nghĩa: không trộm cắp.
3. Lễ: không tà dâm.
4. Trí: không uống rượu.
5. Tín: không nói dối.
NGŨ ĐỨC HẠNH
1. Ôn: ôn hòa.
2. Lương: lương thiện.
3. Cung: cung kính.
4. Kiệm: tiết kiệm.
5. Nhường: nhẫn nhường.
NGŨ PHƯỚC LÂM MÔN
1. Sống lâu
2. Giàu sang
3. Khỏe mạnh (không bệnh tật)
4. Háo đức (tu nhân)
5. Khảo chuân mạng (chết được an lành)
BÁT ĐỨC
(TÁM THỨ ĐỨC
LÀM NGƯỜI)
1. Hiếu: hiếu thảo.
2. Để: kính trọng.
3. Trung: trung thành.
4. Tín: tín nhiệm.
5. Lễ: lễ phép.
6. Nghĩa: nghĩa khí.
7. Liêm: liêm khiết.
8. Sỉ: hổ thẹn.
Muốn có Trí Huệ
cần phải buông bỏ:
1. Tự tư tự lợi
2. Danh văn lợi dưỡng
3. Năm dục sáu trần
4. Tham sân si mạn...
Tham Sân Si là
gốc của Vô Minh.
Tài Sắc Danh Thực Thùy là
gốc của Địa Ngục.
Sát Đạo Dâm Vọng là
gốc của Tam Ác Đạo.
Tất diệt Tham Sân Si,
Khuyên tu Giới Định Huệ.
Chư hành vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc.
Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt hết rồi
Tịch diệt là vui.
Không chấp trước là
Không có ý niệm khống chế
Không có ý niệm chiếm hửu.
Thiểu dục tri túc.
Ít muốn, biết đủ.
Tri túc thường lạc.
Biết đủ thì an lạc.
Ly khổ đắc lạc.
Lìa khổ được vui.
Vô dục tự an, hửu dục tắc khổ.
Không tham muốn thì tự an vui,
Có tham muốn thì tự chuốt khổ.
Uổng tác thiên niên kế
Nhứt đáng vô thường vạn sự hưu
Uổng cho kế hoạch ngàn năm
Một khi chết tất cả đều bỏ hết.
Trong cuộc sống hằng ngày
khởi tâm động niệm điều vì
chúng sanh, chẳng phải vì mình.
Vì chúng sanh tức là vì mình
Vì mình tức là hại mình.
Tự lợi được xây dựng trên
cơ sở của lợi tha.
Niệm Phật là nhân
Thành Phật là quả.
Tâm tịnh Phật hiện
Tâm cấu Phật diệt
Tâm mê Phật ẩn
Tâm ngộ Phật hiển.
Tâm tịnh thì cõi tịnh
Tâm uế thì cõi uế.
Tâm tịnh thì cõi nước tịnh
Tâm an thì chúng sanh an
Tâm bình thì thiên hạ bình.
Tướng do tâm sanh
Cảnh tùy tâm chuyển.
Giác rồi thì tâm an
Mê rồi thì tâm bất an.
Tâm bình khí hòa.
Khi trong tâm không có đối lập,
thì tập tánh (khí) sẽ hài hòa.
Gia hòa vạn sự hưng.
Gia đình hòa thuận thì
mọi sự đều hưng vượng.
Y báo theo chánh báo chuyển.
Duy tâm sở hiện
Duy thức sở biến.
Vạn pháp giai không
Nhân quả bất không.
Vạn pháp đều như huyễn
Nhân quả thì bất biến.
Bất biến tùy duyên
Tùy duyên bất biến.
Làm mà không làm
Không làm mà làm.
Tùy duyên mà không phan duyên
Tùy duyên mà hành sự nhưng
không chấp trước phân biệt.
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.
Tất cả pháp hữu vi
Như chiêm bao, ảo thuật
Như bóng nước, sương mai, điện chớp
Cần phải có cái nhìn như thế.
Mệnh do ngã lập
Phúc tự kỳ cầu
Họa phúc vô môn
Duy nhân tự chiêu.
Mạng do ta lập ra
Phước do chính ta cầu
Họa phước không có cửa
Do người tự chuốt lấy.
Tùng sử bách thiên kiếp
Sở tác nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ.
Trải qua trăm ngàn kiếp
Nghiệp tạo chẳng mất tiêu
Nhân duyên đầy đủ thời
Quả báo mình lại thọ.
Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị,
Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị.
Muốn biết nhân đời trước
Xem kết quả đời này,
Muốn biết kết quả đời
sau
Xem nguyên nhân đời hiện tại.
Dược vô quý tiện, dũ bệnh giả
lương. Pháp vô ưu liệt, khế cơ
tắc diệu.
Thuốc không có quý tiện (hay dở), lành bệnh là thuốc hay,
Pháp không có đốn tiệm (mau
chậm), hợp cơ là pháp diệu.
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.
Chớ làm các điều ác
Vâng làm các điều lành
Giữ gìn ý trong sạch
Là lời chư Phật dạy.
Tất cả pháp không thể có,
thẩy đều không, không thể được.
Vô tướng trí huệ là: "thân tâm
thanh tịnh, xa lìa phân biệt".
Bất thủ ư tướng,
như như bất động.
Chẳng chấp vào tướng,
như như bất động.
Đừng chấp về hình,
phải để ý đến tâm.
Thiện sanh phước
Định sanh huệ.
Tùy hỷ tức là không gây
chướng ngại cho người khác.
Tại sao học Phật không được
thành tựu? Tại vì dùng tâm vọng
tưởng phân biệt chấp trước học Phật.
"Lợi" (tư lợi) là căn nguyên
của sự động loạn, tai họa.
Tạo mạng do nghiệp xưa
Lập mạng do nghiệp nay.
Đã biết là vô thường
Sao lại còn phiền não.
Học Phật không có nghĩa là
tôi hiểu, tôi biết rõ, mà là
chân chánh tôi làm được.
Vạn ban tương bất khứ,
Duy hữu nghiệp tùy thân.
Vạn thứ không đem đi,
Chỉ có nghiệp theo thân.
Người chân chính tu đạo
không thấy lỗi thế gian.
(lời Lục Tổ Huệ Năng)
Công cao dị tấn,
niệm Phật vi tiên.
Công cao mà dễ tiến
thì niệm Phật đứng đầu.
(lời Huệ Viễn ĐS)
Như Lai sở dĩ hưng xuất thế,
Duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải
(lời Thiện Đạo ĐS)
Thật vì sanh tử
Phát tâm Bồ Đề
Dùng Tín Nguyện sâu
Trì danh hiệu Phật.
(lời Liên Trì ĐS)
Được vãng sanh hay không
đều
do Tín, Nguyện có hay không.
Phẩm vị cao hay thấp đều
do hành trì sâu hay cạn.
(lời Ngẫu Ích ĐS)
Đôn luân tận phận
Nhàn tà tồn thành
Tín nguyện niệm Phật
Cầu sanh Tịnh Độ.
Giữ gìn luân thường đạo đức,
làm tròn bổn phận.
Bỏ ác, hành thiện, tâm phải
chân thành, cung kính.
Tín sâu, nguyện thiết,
chuyên chấp trì danh hiệu Phật.
Lòng luôn hướng về Tịnh Độ
cầu vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc Thế Giới.
(lời Ấn Quang ĐS)
Thanh Tịnh Từ Bi
Không tranh với người
Không cầu với đời
Lão thật niệm Phật
Cầu sanh Tịnh Độ
(lời Tịnh Không HT)
Nói ít một câu chuyện,
Niệm nhiều một câu Phật,
Ðánh chết được vọng niệm,
Pháp thân ngươi hiển lộ.
(lời Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát)
Một câu A Di Ðà
Là tổng trì vạn pháp
Tiếng niệm ứng theo tâm
Niệm đâu tâm theo đó
Cảm ứng bất tư nghị
Ao bảy báu nở sen.
(lời Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát)
Học vấn chi đạo vô tha,
cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ.
Ðạo Học vấn chẳng có chi khác,
mong cầu buông tâm mà thôi.
(lời Mạnh Tử)
Bất hoạn vô vị hoạn sở dĩ lạc,
bất hoạn mạt bỉ chi cầu vi khả
chi giả.
Đừng sợ người ta không biết
đến mình, mà chỉ sợ mình không
xứng đáng để người ta biết đấy
thôi.
(lời Khổng Tử)
Hành hữu bất đắc phản cầu tự kỷ
(Làm mà không xong thì phải
quay ngược về mình mà tìm)
(Không nên hỏi người mà tự
hỏi chính mình).
(lời Khổng Tử)
Học Phật là sự hưởng thụ
tối cao nhất của đời người.
(lời giáo sư Phương Đông Mỹ)
Vạn ác dâm vi thủ
Bách thiện hiếu vi tiên.
Vạn điều ác dâm đứng đầu
Trăm điều thiện hiếu trước tiên.
Nhất thiết chư pháp
Nhân duyên sở sanh
Vô hữu tự tánh
Đương thể tức không
Liễu bất khả đắc.
Hết thảy các pháp
Do nhân duyên sanh
Chẳng có tự tánh
Đương thể tức không
Trọn chẳng thể được.
Nhất thiết pháp
Vô sở hữu
Tất cánh không
Vô khả đắc.
|
QUY TẮC TU HỌC
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được; thay người làm những việc cực nhọc, thành toàn việc tốt đẹp cho người.
Khi tĩnh tọa thường nghĩ đến điều lỗi của mình. Lúc nhàn đàm đừng bàn đến điều sai trái của người. Lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, chỉ niệm Phật hiệu không để gián đoạn: hoặc niệm nho nhỏ, hoặc niệm thầm. Ngoài việc niệm Phật, đừng dấy khởi một niệm nào khác. Nếu khởi vọng niệm, phải tức thời bỏ ngay.
Thường có lòng hổ thẹn và tâm sám hối. Nếu đã tu trì, phải tự hiểu là công phu của ta hãy còn nông cạn, chẳng nên tự kiêu căng, khoa trương, chỉ nên chăm sóc việc nhà mình mà đừng nên dính vào việc nhà người. Chỉ nên nhìn đến những hình dạng tốt đẹp mà đừng để mắt tới hình dạng xấu xa bại hoại. Hãy coi mọi người đều là Bồ Tát, mà ta chỉ là kẻ phàm phu.
Nếu quả có thể tu hành được như những điều kể trên, thì nhất định được sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.
Lời khai thị của Ấn Quang Đại Sư 
ĐỨC PHẬT DẠY
Người nào muốn vãng sanh vào cõi Phật, phải tu Tam Phước:
- Một là hiếu thảo cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, có lòng từ bi không sát sanh, tu thập thiện nghiệp.
- Hai là thọ trì tam quy, giữ các giới đầy đủ, không phạm oai nghi.
- Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyên bảo người tu hành.
Làm được ba điều này, thì gọi là Tịnh Nghiệp Chánh Nhân của ba đời chư Phật.
- Phật Giáo là Đức Phật đối với chín pháp giới chúng sanh giáo dục chí thiện viên mãn nhất.
- Đức Phật Thích Ca sở thuyết tất cả kinh điển 49 năm, nội dung là nói rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh.
- Tri giác gọi là Phật, Bồ Tát. Bất giác gọi là Phàm Phu.
- Tu hành là chúng ta đem những sự hiểu sai lầm đối với vũ trụ nhân sanh cách nhìn, cách nghĩ, cách nói cách làm mà cần phải tu chỉnh lại.
- Cương lĩnh tu hành của Phật giáo là Giác Chánh Tịnh, Giác mà không mê, Chánh mà không tà, Tịnh mà không nhiểm, y theo Giới Định Tuệ tam học hầu mong đạt đến mục tiêu này.
- Nền tảng tu học là Tam Phước, đối với người phải y theo Lục Hòa, đối với việc làm phải tu Lục Độ, tuân theo hạnh nguyện Phổ Hiền, tâm quy hướng Tịnh Độ, thì sự giáo hóa của Phật mới có thể hoàn toàn viên mãn.
Trích lời Tịnh Không Pháp Sư 
HÃY SỐNG TRONG THẾ GIỚI BIẾT ƠN
Hãy biết ơn những người khiển trách ta
vì họ giúp ta tăng trưởng Định Tuệ.
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn.
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.
Hãy biết ơn những người lường gạt ta
vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.
Hãy biết ơn những người làm hại ta
vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta.
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được
Kiên Định Thành Tựu.
LIVING A GRATEFUL WORLD
Be grateful to those who have hurt or harmed you
for they have reinforced your determination
Be greteful to those who have made you stumble
for they have strengthened your ability
Be grateful to those who have abandoned you
for they have taught you to be independent
Be grateful to those who have hit you
for they have reduced your karmic obstacles.
Be grateful to those who have deceived you
for they have deepened your insight.
Be grateful to those who have denounced you
for they have increased your wisdom and concentration
Be grateful to those who have made you
FIRM & RESOLUTE and Help in your Achievement.
Lời khai thị của Tịnh Không Pháp Sư 
ĐẠI THẾ CHÍ NIỆM PHẬT
VIỄN THÔNG CHƯƠNG
(ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH)
Ngài Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, cùng với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng tu pháp môn Tịnh Độ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, danh hiệu là Vô Lượng Quang. Trong một kiếp có mười hai đức Như Lai kế nhau thành Phật, vị thành Phật sau cùng danh hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Đức Phật kia chỉ dạy con pháp Niệm Phật Tam Muội. Thí như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như thế, nếu có gặp nhau cũng như không gặp, dầu có thấy nhau cũng như không thấy. Nếu hai người đều tưởng nhớ nhau, cả hai người càng nhớ càng khắc sâu trong lòng. Như thế từ đời này cho đến đời khác, như hình với bóng, không cách xa nhau. Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sanh, như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn, tuy rằng tưởng nhớ chẳng có ích gì? Nếu con nhớ mẹ, như mẹ thường nhớ con, mẹ con đời đời kiếp kiếp không cách xa nhau. Nếu tâm của chúng sanh, nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền hay tương lai, nhất định sẽ thấy được Phật, cách Phật không xa, không cần dùng phương pháp nào khác, thì tự tâm được khai ngộ. Như người ướp hương, thì thân có mùi thơm, ấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Pháp tu nhân địa của con là chuyên tâm niệm Phật, chứng nhập pháp Vô Sanh Nhẫn. Nay ở cõi Ta Bà này, rộng độ những người niệm Phật, vãng sanh về Tịnh Độ. Phật hỏi về chứng đắc viên thông, con không lựa chọn, đều nhiếp lục căn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam Ma Địa, đó là thù thắng nhất.
Việt dịch: Pháp Sư Minh Nhẫn 
1. Chân thành.
2. Thanh tịnh.
3. Bình đẳng.
4. Chánh giác.
5. Từ bi. |
6. Nhìn thấu.
7. Buông xả.
8. Tự tại.
9. Tùy duyên.
10. Niệm Phật. |
Phát Bồ Đề Tâm
Nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.
SÁM HỐI
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Điều do vô thủy tham sân si
Bởi thân khẩu ý phát sinh ra
Hết thảy con nay nguyện sám hối.
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thỉ tham sân si
Tùng thân ngữ y chi sở sanh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.
NGUYỆN VÃNG SANH
Nguyện sanh Tịnh Độ ở Tây Phương
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh
Bồ Tát bất thối là bạn lữ.
Nguyện sanh Tây Phương tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ Tam Đồ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát Tâm Bồ Đề
Hết một báo thân này
Sanh qua cõi Cực Lạc.
Nguyện dĩ thử công đức
Trang nghiêm Phật Tịnh độ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nhược hữu kiến văn giả
Tức phát Bồ đề tâm
Tận thử nhứt báo thân
Đồng sanh Cực Lạc quốc.
Nam Mô A Di Đà Phật 
Dưới đây là những chân ngôn vô cùng quý báo từ HT Tịnh Không, các Tổ Sư, Cao Tăng Đại Đức, Thánh Nhân, và kinh điển, nhằm để khuyến tấn hành giả tin sâu nhân quả, đoạn ác tu thiện, tinh tấn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Tông chỉ của pháp môn niệm Phật là:
"Tin sâu, nguyện thiết, chuyên trì danh hiệu Phật".
(Hoặc) "Phát Bồ Đề Tâm, nhất hướng chuyên niệm".
Tin sâu, nguyện thiết chính là vô thượng Bồ Đề Tâm.
Pháp môn Niệm Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ.
Chỉ cần khẩn thiết chí thành thì không ai chẳng được
Phật tiếp dẫn.
Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.
Quán pháp như hóa, tam muội thường tịch.
Quán pháp như huyễn hóa, thường luôn ở trong định.
Khéo gìn khẩu nghiệp, không chê lỗi người.
Khéo gìn thân nghiệp, không mất luật nghi.
Khéo gìn ý nghiệp, thanh tịnh không nhiễm.
(trích kinh Vô Lương Thọ)
Nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền hay tương lai,
nhất định sẽ thấy được Phật.
Thu nhiếp lục căn, tịnh niệm kế tiếp.
Buông bỏ hết vạn duyên mà niệm Phật
'Không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn' thì
công phu nhất định sẽ đắc lực, đây là bí quyết của
việc niệm Phật.
'Nhiếp trọn sáu căn là bí quyết niệm Phật'. Lúc niệm
Phật nhất định phải thâu nhiếp nhĩ căn, lắng nghe
từng câu, từng chữ rõ ràng, rành mạch, đừng để luống
qua. Phật hiệu phát khởi từ tâm, âm thanh từ miệng
niệm, lọt vào tai, liên tục chẳng dứt.
Khi hành giả đề khởi câu Phật hiệu, tai phải nghe rõ
ràng từng chữ, tâm phải trụ vào câu Phật hiệu, không
chạy theo vọng trần và nhiếp tâm liên tục hành giả sẽ
tiến sâu vào cảnh giới chánh định.
Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn
Đau mồm, rát họng chỉ uổng công.
Lão thật niệm Phật.
Dùng tâm chân thành mà niệm Phật
Không sợ niệm khởi, mà chỉ sợ giác chậm.
Không sợ vọng niệm khởi lên, mà chỉ sợ không tỉnh
giác nhận liền ra nó và dùng câu Phật hiệu để đè nó.
Nhập đạo yếu môn, phát tâm vi thủ, tu hành cấp vụ
lập nguyện cư tiên. Nguyện lập tắc chúng sanh khả
độ, tâm phát tắc Phật đạo kham thành.
Cửa yếu vào đạo lấy sự phát tâm làm trước, việc cấp
thiết tu hành lấy lập nguyện làm đầu, nguyện có lập
thì chúng sanh mới độ, tâm co phát thì Phật đạo mới
thành.
Vong thất Bồ Đề Tâm, tu chư thiện pháp thị danh ma
nghiệp.
Quên mất tâm Bồ Đề, dẫu tu các hạnh lành, cũng đều
là nghiệp ma.
Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc?
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn?
Biết đủ thì đủ, còn đợi cho đủ thì khi nào mới đủ? Biết nhàn thì nhàn, còn đợi cho nhàn thì khi nào
mới được nhàn?
Ác giả ác báo, nhược bằng bất báo, thời thần vị đáo.
Làm ác sẽ bị ác báo hại, nếu như chưa thấy, là tại ngày giờ chưa đến thôi.
Nhứt thiết chúng sanh vô sát nghiệp,
Hà sầu thế giới động đao binh.
Nếu tất cả chúng sanh không sát hại (ăn thịt) lẫn nhau
Thì lo gì thế giới có chiến tranh.
Chư dư tội trung sát tội tối trọng,
Chư công đức trung bất sát đệ nhất.
Trong tất cả tội ác, sát sanh là nặng nhất,
Trong tất cả công đức, không giết (phóng sanh)
là đệ nhất.
Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác,
Tử tế tư lường thiên địa bất thác.
Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo,
Nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo.
Chứa lành gặp lành, chứa ác gặp ác,
Kỹ càng nghĩ lường, Trời Đất chẳng lầm.
Lành có lành trả, dữ có dữ trả,
Nếu về chẳng trả, ngày giờ chưa đến.
Bình sanh hành thiện, Thiên gia phước,
Nhược thị ngu ngoan thụ họa ương.
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Cao phi viễn tẩu dã nan tàng.
Thường ngày làm lành, Trời ban thêm phước,
Nếu ngu ngang ngạnh, thì chịu tai ương.
Lành dữ cuối cùng đều có quả báo,
Cao bay xa chạy nhưng vẫn khó trốn.
Hiểu được người khác
là thông minh.
Thấy được chính mình là trí tuệ.
Thường thấy lỗi mình sẽ sanh trí huệ.
Thường thấy lỗi người sẽ sanh phiền não.
Thường thấy lỗi mình tức tương ưng với đạo.
Thường thấy lỗi người tức trái nghịch với đạo.
Biết không khó, làm mới chính là khó.
Xử sự đối với người với vật
nên dùng lý trí.
Không nên dùng cảm tình.
Phàm làm việc gì cũng nghĩ đến hậu quả của nó.
Phàm làm bất cứ việc gì cũng nên nghĩ đến hậu quả
lâu dài của nó. Nên dùng lý trí (trí huệ) mà làm.
Nếu chẳng một phen sương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Kẻ tiểu nhân làm ác chỉ sợ người khác biết.
Người quân tử làm lành cũng chỉ sợ người khác biết.
Nên dùng cái tâm dè dặt của người quân tử để làm
Phật sự.
Ðừng mong người khác biết
Chớ mong trời cảm ứng
Thường giữ được nhất tâm
Cho kiên cố, chơn chánh.
Nếu không gấp gúc tu âm đức,
Chung quanh quần ma làm chướng duyên.
Nghiệp thức chưa tiêu, tam muội chưa thành.
Dù nói lý tánh, cuối cùng vẫn là cái bánh vẽ.
Chịu thiệt thòi thì tiêu nghiệp, sanh phước.
Tranh lợi về mình thì tạo nghiệp, tổn phước.
Mọi người tin nhân quả thì thiên hạ thái bình,
Mọi người không tin nhân quả thì thiên hạ đại loạn.
Muốn tiêu trừ nghiệp chướng thì nên niệm Phật
và chuyển đổi cái tâm làm tổn người lợi mình
Tức là mình vì mọi người vậy.
Người tri túc ở Địa Ngục
cũng như Thiên Đàn
Người không tri túc ở Thiên Đàn cũng như Địa Ngục
Tùy thuận phiền não là Phàm Phu.
Tùy thuận tánh đức là Bồ Tát.
Không nên để cho cảnh giới bên ngoài xoay chuyển.
Không nên để phiền não giao động.
Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu ở nơi tâm.
Sở dĩ cảnh duyên có tốt có xấu không phải do hoàn
cảnh tạo ra, mà từ nơi tâm ta biến hiện (chiêu cảm).
Nếu nhìn được thấu thì dù cảnh thuận hay nghịch
đều
làm tăng thượng duyên cho mình. Còn không
nhìn thấu thì dù cảnh thuận hay nghịch đều làm
chướng ngại, tăng thêm phiền não cho mình.
Học vi nhân sư, hành vi thế phạm.
Học làm thầy của người, hạnh làm gương cho đời.
Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.
Nên không trụ vào chỗ nào mà sanh ra tâm ấy.
Để cái tâm trống không, đừng trụ vào đâu cả
thì sẽ sanh ra tâm thanh tịnh.
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.
Phàm cái gì có hình tướng đều là hư dối.
Nhất thiếc pháp đắc thành ư nhẫn.
Tu hành là trong tâm phải an, bên ngoài phải xả.
Tức là "Nội bất động tâm, ngoại bất trước tướng".
Nhất thiết pháp
tùng tâm tưởng sanh.
(Vạn pháp duy tâm tạo)
Chư Phật, Bồ Tát dùng tâm gì để đối đãi hết thảy
người, sự, vật? Là dùng tâm Hiếu Kính.
Tín tâm thanh tịnh kiên cố thì được cảm ứng.
Không cần cầu cảm ứng mà cảm ứng tự hiện tiền.
Thông minh thì không chống lại nghiệp
Giàu có thì không thoát khỏi luân hồi.
Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn sanh ngỗ nghịch nhi.
Người hiếu thuận thì sanh con hiếu thuận,
Người ngỗ nghịch thì sanh con ngỗ nghịch.
'Hiếu thân tôn sư' là căn bản của học Phật. Con
người không hiếu thuận cha mẹ, không tôn kính sư
trưởng, thì bất luận họ học thế gian pháp hay học
Phật pháp, họ cũng không được thành tựu.
Học Phật tức là tùy thuận tánh đức.
Tùy thuận tánh đức tức là người có đạo đức.
Vãng sanh Tịnh Độ chính là đệ nhất đức.
Không có tiền không phải là người nghèo cùng,
Không có đạo đức chính là người nghèo cùng.
Tâm lớn lượng lớn,
phước lớn trí huệ lớn.
Tâm nhỏ lượng nhỏ, phước nhỏ trí huệ nhỏ.
Tha thứ người khác tức là xử tốt với mình,
Tôn kính người khác tức là trang nghiêm cho mình.
Sự giàu sang của một người không phải ở chỗ đầy đủ hay có thật nhiều, mà là ở chổ so đo tính toán thật ít.
Người khác so đo tính toán với bạn,
Chính là họ không bằng bạn.
Nếu bạn so đo tính toán với họ,
Chính là bạn không bằng họ.
Cái gì trong số mạng của mình có
thì dù có dứt bỏ đi nó cũng vẫn có.
Số mạng không có thì dù có cầu khuẩn
cho mấy cũng cầu chẳng được.
Nếu phần mình đã có thì dù có xả bỏ đi
thì tự nhiên chổ khác cũng đem đến.
Ðã đoạn trừ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì
sự hưởng thọ ngũ dục lục trần là tùy duyên; vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước còn chưa đoạn trừ mà
hưởng thọ là phan duyên.
Học Phật tức là học để làm Phật.
Phật học chỉ là môn học để hiểu biết
Học Phật thì có giải, có hành
Phật học chỉ có giải, không hành
Học Phật thì có thể liễu thoát sanh tử
Phật học thì không thể liễu thoát sanh tử.
Yếu vô phiền não yếu vô sầu,
Bổn phận tùy duyên mạc cưỡng cầu.
Vô ích ngữ ngôn hựu khai khẩu,
Vô can kỷ sự thiểu đương đầu.
Điều chính yếu là không phiền não, không ưu sầu,
Bổn phận phải tùy duyên, chớ nên cưỡng cầu.
Những lời chi vô ích, chớ nên mở miệng,
Những điều không liên can, chớ nên xen vào.
Biết được khuyết điểm của mình chính là giác ngộ,
Sửa khuyết điểm cho đúng trở lại là tu hành.
Tu hành không chỉ mỗi ngày tụng kinh lễ Phật gỏ mỏ,
đó là sự biểu hiện bên ngoài. Thật chất chính là ngay
trong cuộc sống thường ngày, ngay trong đối nhân sử
thế đem ân ân oán oán từ vô lượng kiếp đi hóa giải.
Đây gọi là chân thật tu hành.
‘Hằng thuận chúng sanh’ là một trong Mười Nguyện
Phổ Hiền, đây là cách nói với Pháp thân đại sĩ,
chúng ta cũng nên học theo. Buông bỏ vọng tưởng,
phân biệt, và chấp trước, tất cả đều tùy thuận người
khác. Trong lúc tùy thuận, nhất định phải quan sát
kỹ lưỡng, nếu là thiện pháp thì mình tùy thuận, nếu
là ác pháp thì không thể tùy thuận. Tùy thuận phải
dùng lý trí mà không thể dùng cảm tình.
Lý do phàm phu vẫn cứ là phàm phu vì họ chẳng
biết lỗi lầm của mình, cứ cho rằng mình đúng.
Bồ Tát khác với phàm phu là vì Bồ Tát chẳng có
quan niệm mình đúng, chỉ biết rằng lỗi lầm của mình
quá nhiều, mỗi ngày đều phản tỉnh, ngày ngày đều
sửa lỗi, đây là người giác ngộ.
Lúc đối xử với người với vật, chẳng thể có tôi đúng
anh sai, tôi chánh anh tà. Nếu vẫn còn tâm niệm tự tư
tự lợi, cứ cho là mình đúng, đó là phiền não tập khí.
Tâm như vậy thì chẳng thanh tịnh, chẳng bình đẳng.
Đó là chướng ngại với sự cảm ứng đạo giao với chư
Phật, Bồ Tát.
Cứ thường nhìn thấy lỗi người khác, cứ cho là mình
đúng đây là lỗi lầm lớn nhất. Nên dùng con mắt từ bi
mà quán, họ chỉ vì một lúc mê hoặc nên tạo thành lỗi
lầm, họ dùng vọng tâm nên bị phiền não tập khí chi
phối. Chư Phật, Bồ Tát thấy những người này sẽ
dùng tâm thương xót, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng
để đối đãi họ, tại vì chân tâm Phật tánh của họ chẳng
bị giảm bớt chút nào. Phật Bồ Tát đối với họ vẫn
hoàn toàn cung kính.
Phật pháp không lìa thế gian pháp. Thế gian pháp và
Phật pháp ở tại mê và ngộ, không ở tại sự tướng. Thế gian pháp và Phật pháp chỉ là một, không phải hai.
Mê rồi thì là thế gian pháp, giác rồi thì là Phật pháp.
Phật pháp và Thế pháp là một chứ chẳng phải hai.
Dùng tâm của Phật, Bồ Tát vào thế gian thì Thế pháp
thành Phật pháp, chẳng có pháp nào chẳng phải là
Phật pháp. Dùng tâm phàm phu vào Phật pháp thì hết
thảy Phật pháp đều biến thành pháp thế gian. Từ
điểm này có thể biết cái gọi là Phật pháp và Thế
pháp đều chẳng ở tại sự tướng mà ở tại tâm niệm của
mỗi người, đó là ‘tâm tịnh thì cõi nước tịnh’.
Việc tu tập để tâm định không có nghĩa là để biết
người khác, tìm tòi "soi căn, soi kiếp của người
khác", hay để có thần thông, phép lạ trị bệnh chữa tà,
sai khiến quỷ thần, những điều đó trái với tinh thần
đạo Phật. Trái lại, định của Phật dạy là để chữa căn
bệnh vọng tưởng chạy theo cảnh duyên bên ngoài,
không nhận chân được giá trị của nguồn hạnh phúc
của chính mình.
Chú là tăng thượng duyên (duyên phụ), tâm là thân
nhân duyên (duyên chánh), nếu chẳng có duyên chánh
thì duyên phụ chẳng giúp gì được. Nếu thực sự ‘tâm
bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cõi nhiều như
cát’ thì tăng thượng duyên của Chú sẽ khởi tác dụng
rất lớn. Thế nên căn bản là ở nơi tâm địa, tâm địa
phải lương thiện và chân thành.
Nếu có một niệm oán trời trách người thì là sai lầm
quá đỗi. Khi gặp hết thảy cảnh giới, nghịch duyên
không như ý, đều phải quay lại tự mình phản tỉnh,
nhất định là do nghiệp chẳng thiện của mình tích lũy
lại tạo thành, lỗi lầm chẳng ở tại người khác. Quay
đầu lại tự mình chân thật sám hối, sửa sai đổi mới,
đây là chân tu hành.
Xả tài là phước, nhưng càng quan trọng hơn là phải
chẳng chấp tướng. Tu phước mà chấp tướng là phước
báo nhân thiên, tu phước mà ly tướng mới có thể minh
tâm kiến tánh, mới có thể vãng sanh, bất thoái thành
Phật.
Ðức Phật nói ‘tự hành hóa tha’ nghĩa là nhờ vào sự tu
hành chân thật của mình [mới có thể cảm hóa người
khác], tự mình không tu hành chân thật thì không có
ích lợi gì cả. Cho dù biết nói, nói được hay đến đâu,
khi tai họa xảy ra thì cũng không tránh khỏi, vốn phải
sanh tử như thế nào thì vẫn phải sanh tử như thế ấy,
vẫn không ra khỏi luân hồi như cũ, và cũng không thể
vãng sanh.
Nếu cho tu hành là cực khổ mà không biết biếng nhác
lại còn khổ hơn. Tu thì khó nhọc tạm thời mà an vui
vĩnh kiếp, còn biếng nhác thì một đời tạm nhàn nhưng
lắm kiếp chịu sự khổ đau.
Mê mà chưa ngộ, cố nhiên đáng thương; còn biết mà
không làm, mới càng đáng tiếc.
Phật pháp chẳng quý ở chỗ nói cho nhiều, phải chân
chánh phụng hành quý vị mới thật sự thọ dụng được.
Nóng giận làm hại người là chuyện nhỏ,
Làm thiệt hại đến (công đức) mình là chuyện lớn.
Thành tựu cho người tức
là thành tựu cho chính mình,
Phá hoại người tức là
phá hoại công đức chính mình.
Công đức chúng ta tu hành không có ai có thể phá hoại
được,
mà chỉ có chính chúng ta phá hoại nó mà thôi.
Con người ở đời cái quan trọng nhất không phải là
thân mạng, mà là làm sao nâng cao tánh linh của mình.
Nước của bốn biển chỉ có một vị duy nhất, đó là vị
mặn của muối. Giáo pháp của Như Lai cũng thế, chỉ
có một vị, đó là vị giải thoát.
Khi lâm chung được chánh niệm, toàn nhờ lúc
thường ngày dụng
công phu sâu.
Người chân tâm niệm Phật dù ở cảnh phiền não hay
vui mừng cũng giữ câu niệm Phật không gián đoạn.
Cho nên những cảnh ấy không làm lay động được họ.
Người niệm Phật mà hơi có chút chi mừng giận thì
gác bỏ câu niệm Phật ra sau. Như thế làm sau mà
niệm Phật được linh nghiệm.
Người tu hành mà công phu không được đắc lực,
căn bệnh tại chổ không coi sanh tử là việc đại sự.
Niệm Phật muốn được nhất tâm thì trước hết phải phát
tâm chân thật, thật sự vì liễu sanh tử, chẳng phải vì
mong người đời gọi mình là người tu hành chân thật.
Lúc niệm, từng câu, từng chữ phải từ tâm phát khởi,
từ miệng thốt ra, lọt vào tai. Mỗi câu đều như thế,
trăm ngàn vạn câu cũng đều như thế. Làm được như
thế thì vọng niệm không do đâu khởi được, tâm và
Phật tự có thể khế hợp nhau.
Tâm chuyển được cảnh
tức đồng Như Lai.
Tâm bị cảnh chuyển
tức đồng Phàm Phu.
Tâm tạo nghiệp thì tâm cũng chuyển được nghiệp.
Nghiệp do tâm tạo thì nghiệp tùy tâm chuyển. Nếu
tâm chẳng chuyển được nghiệp, tức bị nghiệp trói
buộc. Nếu nghiệp chẳng chuyển theo tâm tức nghiệp
trói buộc tâm. Vì
sao tâm chuyển được nghiệp? Vì
tâm hợp với đạo, tâm hợp với Phật. Vì sao nghiệp
trói buộc được tâm? Vì tâm nương gá theo trần cảnh,
mặc tình tạo tác, mặc tình lãnh thọ.
Nhứt niệm tương ưng tức nhứt niệm Phật,
niệm niệm
tương ưng tức niệm niệm Phật. Như hạt châu thủy
thanh bỏ vào trong nước đục thì nước đục chẳng thể
chẳng trong; danh hiệu Đức Phật đặt vào loạn tâm thì
loạn tâm chẳng thể chẳng Phật (thanh tịnh).
Ở thế gian, cái đáng quý trọng nhất là tinh thần, đáng
mến tiếc nhất là thời gian. Một niệm thanh tịnh là
duyên khởi của Phật giới, một niệm nhiễm ô là sanh
nhân vào chín cõi. Phàm động một niệm tức tạo chủng
tử mười cõi, như thế há chẳng quý trọng ư? Một ngày
đã trôi qua, mạng cũng theo đó mà giảm dần, một tấc
thời gian tức một đoạn thọ mạng, như thế há chẳng
mến tiếc ư? Nếu biết tinh thần là cái đáng quý trọng,
chớ nên uổng phí, phải nên niệm niệm chấp trì danh
hiệu Phật.
Sự sanh tử của con người chỉ do hai lực tạo nên, một
là tâm lực thật nhiều mối, bên nào nặng thì nghiêng về.
Hai là nghiệp lực, như người mang nợ, mạnh thì kéo
dắt trước. Nghiệp lực rất lớn mà tâm lực còn lớn hơn.
Vì nghiệp lực không có tự tánh, chỉ hoàn toàn nương
vào tâm. Tâm hay tạo nghiệp, thì tâm cũng chuyển
được nghiệp. Tâm lực có nặng, nghiệp lực có mạnh thì
mới dẫn dắt thọ sanh. Nếu dùng tâm nặng này mà tu
tịnh nghiệp thì tịnh nghiệp rất mạnh. Tâm nặng nghiệp
mạnh thì chỉ một bề nghiêng về Tây phương mà
thôi. Thế thì mai sau thân chung mạng tận nhất định
vãng sanh Tây phương chứ chẳng thể sanh vào chốn
khác. Như cây lớn, tường cao bình thường đã nghiêng
về hướng Tây, mai sau nếu có đổ hẳn sẽ không đổ về
hướng khác.
Tất cả cảnh giới chỉ do nghiệp chiêu cảm, chỉ do tâm
hiển hiện, đương thể cảnh giới ấy tức không. Phàm có
tâm thì không thể không có cảnh. Cho nên, không hiển
hiện cảnh Phật thì hiển hiện chín cõi, không hiển hiện
cảnh Tam Thừa thì hiển hiện cảnh Lục Phàm, không
hiện cảnh trời, người, ngạ quỷ, súc sanh thì hiện cảnh
địa ngục...Cho nên nói: "Chưa có cảnh vô tâm cũng
không có tâm vô cảnh". Quả ắt phải từ nhân, nhân ắt
phải kết quả. Nếu người biết được đạo lý tâm cảnh,
nhân quả nhất như bất nhị mà còn không niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ thì tôi không tin.
Tâm thể vô niệm chỉ chư Phật mới chứng đắc, còn
từ Đẳng Giác trở về trước đều thuộc hữu niệm. Phàm
khởi một niệm, nhất định sẽ rơi vào mười cõi, vô
niệm thì vượt ngoài mười cõi. Vì không một niệm nào
vượt ra khỏi mười pháp giới. Cho nên, vừa khởi một
niệm tức đã có một duyên thọ sanh. Người biết rõ lý
này mà không niệm Phật thì chưa từng có vậy.
(lời Triệt Ngộ ĐS)
Như tin mà chẳng phát nguyện thì cũng như chẳng tin.
Đã phát nguyện mà chẳng hành trì, thì cũng như chẳng
nguyện. Hành trì mà chẳng dõng mãnh, thì cũng như
chẳng hành. Hành trì sở dĩ không dõng mãnh là do
nguyện chẳng thiết tha; nguyện sở dĩ chẳng thiết tha là
do lòng tin chẳng chân thật. Tóm lại, sanh lòng tin
chân thật quả rất khó. Nếu Tín thật đã chân, thì nguyện
tự sẽ tha thiết; nguyện thật đã tha thiết, thì hành trì tự
nhiên dõng mãnh. Tín đã chơn, nguyện đã thiết, thêm
sức hành trì dõng mãnh, thì nhất định vãng sanh Tịnh
Ðộ.
(lời Triệt Ngộ ĐS)
Niệm Phật thì chẳng khó, mà khó ở chỗ giữ cho được
bền bỉ, lâu ngày không gián đoạn. Nếu được cứng
chắc như sắt đã luyện thành, thép đã tôi xong, như một
người chống muôn người, ngàn Thánh ngăn chẳng
được, vạn trâu kéo chẳng quay đầu, lâu ngày chầy
tháng, nhất định sẽ cảm thông tương ứng. Nếu chưa
dụng tâm được như thế, vội cho rằng lời Phật không
chứng nghiệm, tâm Phật khó cảm ứng, há có nên
chăng? Chỉ cần được nhất niệm cảm thông, liền ra
khỏi sanh tử, thẳng đến vị Bất Thoái, trọn thành Phật
quả.
Mộng ở Ta Bà là từ mộng vào mộng, mộng rồi lại
mộng, mãi mãi trầm mê. Còn mộng ở cõi Cực Lạc là
từ mộng để vào giác, giác rồi lại giác, dần dần đạt đến
Đại Giác. Thế nên, mộng tuy đồng mà nguyên nhân của
mộng thì chưa từng đồng.
Tu các pháp môn khác, như con kiến bò dọc theo ống
tre, hành trì môn Tịnh Độ như con kiến đục thủng ống
tre ra ngoài.
Thường tu phước, đoạn các điều ác. Không nên hưởng
phước, chờ đến lúc lâm chung mới hưởng. Phước ấy
là tâm không điên đảo, chánh niệm hiện tiền. Đó là
phước báo của người lúc lâm chung... Mỗi đêm lên
giường trước khi ngủ nên nghĩ tưởng A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn mình. Chớ nên tham sống sợ chết.
(lời HT Tịnh Không)
Chúng sanh thời Chánh Pháp, tu Giới Luật dễ thành
tựu. Chúng sanh thời Tượng Pháp, tu Thiền Định dễ
thành tựu. Chúng sanh thời Mạt Pháp, tu Tịnh Độ dễ
thành tựu.
(trích từ Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi)
Trong đời mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ nào
đắc đạo, chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà
thoát luân hồi.
(trích từ Kinh Đại Tập)
Chân thành phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ,
chính là phát tâm Vô Thượng Bồ Đề.
(lời Ngẫu Ích ĐS)
Phát Bồ Đề Tâm
Nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.

|





MƯỜI CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT
1. Thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm, Đức A Di Đà phóng quang nhiếp thọ.
2. Thường được các vị Đại Bồ Tát như Đức Quán Thế Âm thủ hộ.
3. Ngày đêm thường được chư Thiên cùng Đại lực Thần tướng ẩn hình ủng hộ.
4. Tất cả Dạ-xoa, ác quỉ, rắn độc, thuốc độc đều không thể làm hại.
5. Không bị những tai nạn: nước, lửa, đao, tên, gông, xiềng, lao ngục, giặc cướp, oan gia, cùng các thứ chết dữ.
6. Những tội đã làm thảy đều tiêu diệt, những kẻ chết oan vì mình đều được giải thoát, không còn kết oán rằng buộc.
7. Ban đêm nằm ngủ thường thấy điềm lành, hoặc thấy sắc thân thắng diệu của Phật A Di Đà.
8. Tâm thường vui vẻ, sắc thường tươi nhuận, khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp lợi ích.
9. Mọi người trông thấy đều vui mừng, cung kính hoặc lễ bái cũng như kính Phật.
10. Khi mạng chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện ra, được Tây phương Tam Thánh tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ hưởng sự an vui không cùng.
MƯỜI CÔNG ĐỨC LẠY PHẬT
1. Được sắc thân tốt đẹp.
2. Nói ra điều chi ai cũng tin dùng.
3. Không sợ sệt giữa đông người.
4. Được chư Phật giúp đỡ.
5. Đầy đủ oai nghi lớn lao.
6. Mọi người đều nương theo mình.
7. Chư Thiên cung kính.
8. Đủ phước đức lớn.
9. Lúc lâm chung được vãng sanh.
10. Mau chứng quả Niết Bàn.
MƯỜI CÔNG ĐỨC
PHÓNG SANH
1. Không có nạn đao binh, tránh
được tai họa chiến tranh tàn
sát.
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa
không gặp các tai nạn.
4. Con cháu đông đúc, đời đời
xưng thạnh nối dõi không
ngừng.
5. Chỗ mong cầu được toại
nguyện.
6. Công việc làm ăn phát triển
hưng thạnh gặp nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng trời thuận tánh Phật,
loài vật cảm ơn, chư Phật hoan
hỷ.
8. Giải trừ oán hận, các đều ác
tiêu diệt, không có lo buồn sầu
não.
9. Vui hưởng an lành, quanh năm
đều được an ổn.
10. Tái sanh về cõi trời hưởng
phước vô cùng, nếu có tu Tịnh
Độ thì được vãng sanh về thế
giới Tây Phương Cực Lạc.
MƯỜI CÔNG ĐỨC
ẤN TỐNG KINH
TƯỢNG PHẬT
1. Một là, những tội lỗi đã tạo từ
trước, nhẹ thì được tiêu trừ,
nặng thì chuyển thành nhẹ.
2. Hai là, thường được các thiện
thần ủng hộ, tránh được tất cả
tai ương hoạn nạn, ôn dịch,
nước, lửa, trộm cướp, đao
binh, ngục tù.
3. Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi
những quả báo phiền khổ, oán
cừu oan trái của đời trước cũng
như đời này.
4. Bốn là, các vị hộ pháp thiện
thần thường gia hộ nên những
loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc
hùm beo tránh xa không dám
hãm hại.
5. Năm là, tâm được an vui, ngày
không gặp việc nguy khốn, đêm
ngủ không thấy ác mộng. Diện
mạo hiền sáng, mạnh khỏe an
lành, việc làm thuận lợi, được
kết quả tốt.
6. Sáu là, chí thành hộ pháp, tâm
không cầu lợi, tự nhiên y phục
đầy đủ, gia đình hòa thuận,
phước lộc đời đời.
7. Bảy là, lời nói việc làm trời
người hoan hỷ, đến đâu cũng
được mọi người kính mến ngợi
khen.
8. Tám là, ngu chuyển thành trí,
bệnh lành mạnh khỏe, khốn
nghèo chuyển thành thịnh đạt.
Nhàm chán nữ thân, mệnh
chung liền được Nam thân.
9. Chín là, vĩnh viễn xa lìa đường
ác, sanh vào cõi thiện, tướng
mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu
việt, phước lộc tròn đầy.
10. Mười là, hay vì tất cả chúng
sinh trồng các căn lành. Lấy
tâm cầu của chúng sinh làm
ruộng phước điền cho mình.
Nhờ công đức ấy đạt được vô
lượng phước quả thù thắng.
Sanh ra nơi nào cũng thường
được thấy Phật, nghe Pháp,
phước huệ rộng lớn, chứng đạt
lục thông, sớm thành Phật quả.
Nhân thân nan đắc
Phật pháp nan văn.
Thân người khó được
Phật pháp khó nghe.
Nhất thất nhân thân
Vạn kiếp nan phục.
Một khi mất thân người
Muôn kiếp khó tìm lại.
Nhất niệm sanh khởi
bách vạn chướng môn khai.
Một niệm sân hận khởi lên trăm ngàn cửa nghiệp
chướng đều mở ra.
(Lửa thiêu rừng công đức)
Phật thị môn trung
hửu cầu tất ứng.
Vì lòng tham sân si mà cầu
thì không có cảm ứng.
Như lý, như pháp mà cầu
thì có tất ứng.
Tích tài tán đạo.
Tích trữ tài phú càng nhiều
thì đạo hạnh sẽ giảm đi.
Phước đa nghiệp phạm.
Hưởng phước càng nhiều
càng dễ tạo nghiệp.
Tu phước bất hưởng phước.
Tu phước không nên hưởng
phước, vì hưởng phước dễ
bị phước báo hại (đọa lạc).
Thiện bất cầu danh.
Làm việc thiện nhưng không vui cầu danh lợi với đời.
Thi ân bất cầu báo.
Dĩ giới vi sư,
Dĩ khổ vi sư.
Nên lấy giới mà làm thầy,
Nên lấy khổ mà làm thầy.
Từ bi di bổn
Phương tiện di môn.
Lấy từ bi làm gốc
Lấy phương tiện làm cửa.
Có tiền là phước
(Biết) dùng tiền là trí huệ.
Sanh không mang đến
Chết không mang đi.
(Chỉ đi theo nghiệp của mình)
Thọ khổ tức liễu khổ
Hưởng phước tức tiêu phước.
Chịu khổ thì sẽ hết khổ
Hưởng phước thì sẽ hết phước.
Hữu tâm vô tướng,
Tướng tự tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm,
Tướng tùng tâm diệt.
Có tâm tốt nhưng tướng xấu,
Thì tướng theo tâm chuyển tốt.
Có tướng tốt nhưng tâm xấu,
Thì tướng theo tâm chuyển xấu.
Tu tất cả thiện, lìa tất cả tướng.
Tu tất cả các thiện pháp nhưng
tâm không bị dính mắc, không
chấp trước (tâm thanh tịnh).
Phật pháp là coi trọng thật chất
Không coi trọng hình tướng.
Phật pháp chú trọng ở giải hành
Giải hành như chim có 2 cánh.
Có giải mà không hành,
Thì tăng trưởng tà kiến.
Có hành mà không giải,
Thì tăng trưởng vô minh.
Chuyển mê thành ngộ là nhân
Chuyển phàm thành thánh là quả
Tất cả chúng sanh là cha mẹ
quá khứ, chư Phật Như Lai.
Học Phật là học chịu thiệt thòi
(Học Phật là học chịu nhẫn nhục)
Luôn để tâm đựng những gì
thiện, tốt đẹp nhất của mọi người
Đừng để tâm đựng những gì bất thiện, xấu
xa nhất của mọi người.
Luôn tùy hỷ công đức, không
nên
nghĩ xấu, phê bình mọi người.
Phước đức và công đức trên sự
tướng không có khác biệt. Khác
biệt là chổ dụng tâm khác nhau.
Cái khổ ở địa ngục, của con lừa, con lạc đà chở nặng chưa phải là
khổ, không tìm thấy được hướng
đi mới thực sự là khổ.
Hại người tức là hại chính mình
Gạt người tức là gạt chính mình
Dối người tức là dối chính mình
Muốn hóa giải xung đột phải bắt
đầu từ những mâu thuẫn đối lập
trong tâm mình.
Nếu chấp thuận trở ngại
thì lại thông suốt.
Mà mong cầu thông suốt
thì sẽ bị trở ngại.
Trong thuận cảnh không nên
khởi lòng tham, kiêu ngạo.
Trong nghịch cảnh không nên
khởi lòng sân hận, đố kỵ.
(Bát phong suy bất động)
Làm việc tốt không nên
để cho người khác biết.
Làm việc xấu thì nên
để cho người khác biết.
Không thấy lỗi người khác,
Chỉ thấy lỗi chính mình.
Thấy lỗi ở người thì
tăng trưởng phiền não,
Thấy lỗi ở chính mình và sửa
đổi thì tăng trưởng trí huệ.
Khi nhìn vạn sự vạn vật, lấy tâm
bình đẳng, tâm hoan hỷ mà nhìn.
Luôn giữ cho tâm địa
thuần tịnh thuần thiện.
Có định thì sanh huệ,
có thiện thì sanh phước.
Chướng ngại thật sự là ở bên trong, không phải ở bên ngoài.
Không nhớ lỗi cũ
Không ghét người ác.
Hết thảy phải làm
với tâm chân thật.
Thành tựu cho người khác
chính là thành tựu cho mình.
Buông xuống hết vạn duyên.
Buông xuống thân tâm thế giới
Đây tức là 'cách vật' vậy.
Dùng cái tâm chỉ trích người
khác để chỉ trích mình.
Dùng cái tâm tha thứ cho mình
để tha thứ người khác.
Tâm, Phật, Chúng sanh
Tam vô sai biệt.
Trì danh niệm A Di Đà Phật là
thậm thâm thượng diệu thiền.
Cuộc sống thanh bần thì
phát khởi đạo tâm.
Thiện căn của thế gian là
không tham, không sân, không si.
Thiện căn của xuất thế gian là
tinh tấn.
Chân thành và cung kính
Quả là bí quyết cực diệu
Để siêu phàm nhập thánh
Liễu sanh thoát tử.
Người khéo bàn tâm tánh
Ắc chẳng lìa nhân quả
Người tin sâu nhân quả
Cuối cùng ắc hiểu được
thấu suốt tâm tánh.
Nhược chơn tu đạo nhơn,
Bất kiến thế gian quá.
Nhược kiến tha nhơn phi,
Tự phi khước thị tả.
Tha phi ngã bất phi,
Ngã phi tự hữu quá.
Ðản tự khước phi tâm,
Ðả trừ phiền não phá.
Tắng ái bất quan tâm,
Trường thân lưỡng cước ngọa.
Nếu là người chơn tu,
Chẳng thấy lỗi thế gian.
Nếu thấy lỗi của người,
Trái lại thành tự quấy.
Người quấy ta chẳng quấy,
Thấy quấy thành tự lỗi.
Hễ bỏ tâm chấp quấy,
Phiền não tự tan rã.
Thương ghét chẳng quan tâm,
Duỗi thẳng hai chân nằm.
Thường kiến tự kỷ quá,
Dữ đạo tất tương đương.
Thường tự thấy lỗi mình,
Tức tương ưng với đạo.
Chế tâm nhứt xứ
Vô sự bất biện.
Điều chế tâm một chổ
Không việc gì chẳng xong.
Thiện là nhân của phước
Ác là căn nguyên của họa.
Chỉ tự xét mình
Đừng cầu lỗi người.
Nói được mà không làm được
thì không phải là chơn trí huệ.
Lý tuy đốn ngộ, sự phải tiệm trừ.
Mặc dầu hiểu rõ lý, nhưng sự
cũng cần phải tu (tức cần phải
thực hành, không nên chỉ chấp
vào
lý mà phế đi sự).
Tùy duyên tiêu nghiệp củ,
Không tạo thêm họa mới.
Hưởng phước là tổn phước,
không hưởng phước là
chân thật đang hưởng phước.
Ái bất trọng bất sanh Ta Bà,
Niệm bất nhất bất sanh Tịnh Độ.
Nếu chẳng tham ái nặng thì
không sanh Ta Bà.
Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật
thì không sanh Tịnh Độ.
Lấy oán báo oán,
thời oán không dứt.
Lấy nhẫn dứt oán,
thời oán mới tiêu.
Hiểu rõ nhân quả,
thời không oán trời.
Hiểu rõ chính mình,
thời không oán người.
Một ngày làm tốt, tốt chưa đủ
Một ngày làm ác, ác đã dư.
Tướng biểu hiện của tham, sân si là chiếm hữu, đối lập, khống chế
Mặt trái của tham sân si là:
thanh tịnh, bình đẳng, giác. |